Thiếu dăm gỗ đốt lò hơi không còn là chuyện riêng của mùa mưa. Giá dăm xuất khẩu bình quân nửa đầu 2026 tăng 18,3%, trong khi lò hơi trong nước mua chung nguồn gỗ keo và phụ phẩm với nhà máy dăm, viên nén và ván ép.
- Việt Nam xuất gần 7,8 triệu tấn dăm trong 6 tháng đầu 2026, giá bình quân khoảng 173,7 USD/tấn.
- Phần lớn dăm đi Trung Quốc để phục vụ ngành giấy, nhưng dùng chung gỗ keo với lò hơi trong nước.
- So giá theo kg là sai: dăm ẩm 50% tốn 458 kg cho 1 tấn hơi, dăm ẩm 30% chỉ 301 kg.
- Muốn giữ lò chạy, cần hợp đồng theo độ ẩm, nguồn dự phòng và kho đủ ngày.
- Đổi nhiên liệu phải kiểm tra buồng đốt, cấp liệu, tro xỉ và giới hạn khói bụi.
Thiếu dăm gỗ đốt lò hơi: nhà máy đang giành nguồn với ai?
Theo báo cáo của Forest Trends dẫn số liệu Cục Hải quan, 6 tháng đầu năm 2026 Việt Nam xuất gần 7,8 triệu tấn dăm gỗ, trị giá khoảng 1,3 tỷ USD. Lượng tăng 9,4%, còn giá bình quân lên khoảng 173,7 USD/tấn, tăng 18,3% so với cùng kỳ.
Trung Quốc mua 68,6% tổng lượng, với giá khoảng 173,9 USD/tấn, tăng 22,3%. Forest Trends cho rằng nhu cầu phục hồi trong bối cảnh ngành giấy châu Á cạnh tranh gay gắt và nhiều dự án bột giấy mới xuất hiện. Indonesia cũng nổi lên, nhập khoảng 809.600 tấn trong 6 tháng.
Nói cho công bằng, dăm lên tàu phần lớn không phải để đốt lò, mà để làm giấy. Viên nén mới là nhóm phục vụ đốt: gần 3,8 triệu tấn trong 6 tháng, 75% đi Nhật Bản theo cơ chế hỗ trợ điện sinh khối. Nhưng lò hơi trong nước vẫn bị ảnh hưởng, vì các ngành này cùng dựa vào rừng trồng và phụ phẩm gỗ.
Ông Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, được Mekong ASEAN dẫn lời rằng dăm và viên nén tiêu thụ tới 80% nguyên liệu từ rừng trồng. Giá xuất khẩu không phải giá nhà máy mua tại cổng, nhưng là tín hiệu cho người gom hàng biết bán đi đâu lợi hơn.
Với chủ xưởng, cảm nhận thường rất đơn giản: xe hàng về thưa hơn, báo giá mới cao hơn, mà dăm lại ướt hơn. Câu hỏi đúng lúc này không chỉ là mua ở đâu, mà là mua loại nào, độ ẩm bao nhiêu và lò có đốt được phương án khác hay không.
Tự tính giá dăm gỗ theo tấn hơi, không theo tấn hàng
Trong dăm ẩm, nước không cho nhiệt mà còn lấy nhiệt để bốc hơi. Vì vậy cùng một xe 10 tấn, tiền mua giống nhau mà lượng hơi tạo ra có thể chênh rất xa. Công thức dưới đây giúp đổi giá mua sang giá 1 tấn hơi.
Nhiệt trị thấp (MJ/kg) ≈ 18,5 × (1 − ẩm) − 2,44 × ẩmLượng dăm cho 1 tấn hơi (kg) = 2.647 ÷ (nhiệt trị thấp × hiệu suất)
| Độ ẩm dăm | Nhiệt trị, kcal/kg | kg dăm/tấn hơi | Giá hòa vốn so với 1.500 đồng/kg ẩm 30% |
|---|---|---|---|
| 20% | ≈ 3.420 | ≈ 257 kg | ≈ 1.760 đồng/kg |
| 30% | ≈ 2.920 | ≈ 301 kg | 1.500 đồng/kg |
| 40% | ≈ 2.420 | ≈ 363 kg | ≈ 1.243 đồng/kg |
| 50% | ≈ 1.920 | ≈ 458 kg | ≈ 986 đồng/kg |
Ước tính lý thuyết: nhiệt trị khô giả định 18,5 MJ/kg, hiệu suất giữ 72% cho cả 4 dòng, hơi 8 bar, nước cấp 30°C. Giá 1.500 đồng/kg là giả định minh họa, không phải giá thị trường. Thực tế dăm càng ẩm thì hiệu suất càng giảm, nên chênh lệch thật thường lớn hơn bảng.
Đọc bảng theo cách này: nếu dăm ẩm 30% giá 1.500 đồng/kg, thì dăm ẩm 50% chỉ đáng khoảng 986 đồng/kg. Mua 1.200 đồng/kg với lời chào giá rẻ hơn thực ra là mua đắt hơn. Ở mức ẩm 30%, mỗi tấn hơi tốn khoảng 451.000 đồng tiền nhiên liệu với giá giả định trên.
Ví dụ lò 2 tấn hơi/giờ
Lò 2 tấn hơi/giờ dùng dăm ẩm 30% cần khoảng 602 kg/giờ. Nếu dăm về ẩm 50%, con số lên khoảng 916 kg/giờ. Hệ thống cấp liệu, quạt và người vận hành phải xử lý thêm hơn 50% khối lượng, trong khi quạt hút còn phải kéo thêm hơi nước. Đó là lúc lò tụt áp dù kho vẫn đầy.
5 rủi ro khi lò hơi thiếu dăm gỗ
Thiếu nhiên liệu ít khi xảy ra đột ngột. Nó thường đến qua những lô hàng kém dần, rồi mới thành dừng lò. Đây là những dấu hiệu đội vận hành nên ghi lại.
Nhận hàng ẩm hơn thỏa thuận
Không đo độ ẩm tại cổng thì nhà máy trả tiền cho nước. Đây là thất thoát lớn nhất trong giai đoạn khan hàng.
Tạp chất tăng
Đất, cát, đinh, mảnh nhựa làm tăng tro, mài mòn cấp liệu, gây đóng xỉ và kẹt vít tải.
Kích thước không đều
Dăm dài và mùn mịn trộn lẫn làm bít phễu, tạo đường gió lệch trên ghi và đốt không đều.
Tụt áp theo từng ca
Nhiên liệu kém làm giảm công suất thực. Dây chuyền dùng hơi chịu ảnh hưởng trước khi đồng hồ báo lỗi.
Khói đen và vượt giới hạn bụi
Nhiên liệu ướt, thiếu gió làm cháy không hết, tăng tải cho cyclone và thiết bị xử lý khói.
Nguồn hàng chỉ có một mối
Nguyên nhân gốc thường là phụ thuộc một nhà cung cấp, không có nhiên liệu dự phòng đã đốt thử và không có kho đệm.
Trước khi trách nhà cung cấp, nên kiểm tra phần việc của nhà máy. Nhiều nơi lấy một mẫu ở mặt xe, trong khi phần ướt nằm dưới đáy. Nên lấy ở nhiều điểm, cân mẫu, sấy hoặc đo bằng máy đo ẩm đã kiểm tra lại, rồi lưu phiếu theo từng xe. Cách nhận hàng tại cổng được trình bày thêm ở bài 5 lỗi khi nhận dăm gỗ của VLB Boiler.
Tôi hay hỏi chủ xưởng một câu: tháng rồi anh mua bao nhiêu tiền cho một tấn hơi? Nhiều người trả lời được giá một tấn dăm, ít người trả lời được giá tấn hơi. Lúc nguồn khan, người bán sẽ ưu tiên giữ giá trên giấy và để độ ẩm tăng lên.
Đốt thử nhiên liệu mới lúc lò còn đủ hàng, đừng đợi kho cạn mới thử. Khi đó anh em vận hành có thời gian chỉnh gió, chỉnh cấp liệu và biết lò phản ứng ra sao.
An toàn: Không dùng xăng, dầu để mồi lửa trong buồng đốt khi đổi nhiên liệu. Không mở cửa buồng đốt khi áp suất buồng đốt còn dương. Đống dăm ẩm có thể tự sinh nhiệt, nên kho phải có lối chữa cháy, không chất sát nhà lò và phải kiểm tra nhiệt độ đống. Mọi thay đổi kết cấu lò hoặc buồng đốt cần đơn vị có năng lực thực hiện.
Nhiên liệu thay thế khi thiếu dăm gỗ đốt lò hơi
Mỗi loại nhiên liệu có cách cháy riêng. Nên so bằng tiền trên tấn hơi rồi mới xét đến chuyện lò có đốt được không. Bảng sau quy các loại về cùng mức 451.000 đồng/tấn hơi của dăm ẩm 30% ở 1.500 đồng/kg.
| Nhiên liệu | Nhiệt trị giả định | kg/tấn hơi | Giá ngang dăm ẩm 30% |
|---|---|---|---|
| Mùn cưa ẩm 40% | 2.400 kcal/kg | ≈ 366 kg | ≈ 1.234 đồng/kg |
| Củi | 3.000 kcal/kg | ≈ 293 kg | ≈ 1.542 đồng/kg |
| Trấu | 3.100 kcal/kg | ≈ 283 kg | ≈ 1.594 đồng/kg |
| Viên nén | 4.200 kcal/kg | ≈ 209 kg | ≈ 2.159 đồng/kg |
| Vỏ hạt điều | 4.300 kcal/kg | ≈ 204 kg | ≈ 2.210 đồng/kg |
Ước tính lý thuyết, hiệu suất giả định 72%, nhiệt trị thay đổi theo từng lô. Cột cuối là giá hòa vốn về nhiệt, không phải giá thị trường và chưa tính vận chuyển, tro, nhân công.
- Trấu: nhẹ, nhiều tro, dễ bay theo khói. Lò ghi thường cần chỉnh lớp nhiên liệu, gió và cần xem lại xử lý bụi.
- Viên nén: nhiệt trị cao, ổn định, dễ chứa hơn. Cần kiểm tra chất lượng viên vì giá viên nén cũng chịu sức hút của thị trường xuất khẩu.
- Vỏ hạt điều: nhiệt trị cao nhưng có dầu vỏ, khói và cáu có đặc tính riêng, cần kiểm tra bề mặt truyền nhiệt và xử lý khói.
- Vải vụn, phế phẩm: chỉ đốt khi lò được thiết kế phù hợp và đáp ứng quy định môi trường, không tận dụng theo cảm tính.
- Than: buồng đốt, gió và khí thải khác sinh khối. Giá than cũng đang tăng nên cần tính lại trước khi quay về.
Nhà máy muốn đi xa hơn có thể xem cách quy các loại nhiên liệu về giá 1 tấn hơi và giá trị của mỗi điểm phần trăm hiệu suất trên Vương Long Boiler. Khi đã cần đổi nhiên liệu, xem nguồn cung tại nhiên liệu sinh khối của VLB Boiler.
Kế hoạch 5 bước giữ lò chạy khi thị trường dăm căng
- Tính suất tiêu hao thật: Ghi số tấn nhiên liệu, độ ẩm trung bình và tấn hơi sản xuất. Con số này làm mốc cho mọi so sánh giá
- Viết lại điều khoản mua: Ghi độ ẩm chuẩn, công thức trừ ẩm, tạp chất, kích thước, lịch giao và cách xử lý lô không đạt
- Mở nguồn thứ hai: Đặt mua thử từ nhà cung cấp khác hoặc loại nhiên liệu khác để có thông số trước khi cần gấp
- Tính kho đệm: Lò 2 tấn hơi/giờ chạy 16 giờ/ngày dùng khoảng 9,6 tấn/ngày; 10 ngày là khoảng 96 tấn, tức vài trăm mét khối dăm rời. Cần mái che, thoát nước và lối xe
- Chỉnh lò theo nhiên liệu: Cùng kỹ thuật lò chỉnh gió, cấp liệu, ghi và xả tro. Theo dõi áp suất, nhiệt độ khói, độ khói ống khói trong các ca đầu
Ảnh hiện trường của đội kỹ thuật Vương Long, chỉ minh họa cho nội dung bài.
Với nhà máy tự băm dăm, có thể tính thêm bài toán tận dụng phụ phẩm tại chỗ: đầu mẩu, bìa, gỗ pallet thải. Nguồn tại chỗ giảm phụ thuộc thị trường, nhưng cần máy băm, kho, phân loại kim loại và kiểm soát chất đốt được phép dùng. Gỗ sơn, gỗ tẩm hóa chất hay nhựa không nên trộn vào lò.
Nên theo dõi tin gì trong vài tháng tới?
Doanh nghiệp ngành gỗ đã có đề xuất tăng thuế xuất khẩu dăm tại diễn đàn tháng 7/2026, nhưng đó mới là đề xuất. Nhà máy nên theo dõi thêm mùa khai thác keo, thời tiết, giá viên nén và dầu diesel, vì cước vận chuyển nằm trong giá giao tại cổng. Nên cập nhật bảng tính mỗi tháng thay vì đoán xu hướng.
Checklist cho phòng mua hàng và tổ vận hành lò
- Có số tiền nhiên liệu cho 1 tấn hơi theo tháng
- Mỗi xe có phiếu độ ẩm, tạp chất và mẫu lưu
- Hợp đồng có công thức trừ ẩm và tiêu chí từ chối hàng
- Có ít nhất 2 nguồn hoặc 2 loại nhiên liệu đã đốt thử
- Biết rõ số ngày nhiên liệu tồn kho hiện tại
- Kho có mái che, thoát nước và lối chữa cháy
- Đội vận hành có bảng chỉnh gió theo từng nhiên liệu
- Đã kiểm tra xử lý khói bụi khi đổi nhiên liệu
Thị trường dăm có thể còn biến động, nhưng lò không dừng chỉ vì giá tăng. Lò thường dừng vì nhà máy không biết mình còn bao nhiêu ngày hàng và hàng đang về thực sự cho bao nhiêu hơi.
Vì sao giá dăm gỗ xuất khẩu tăng ảnh hưởng tới lò hơi trong nước?
Dăm gỗ độ ẩm bao nhiêu thì đốt lò hơi tốt?
Thiếu dăm gỗ đốt lò hơi thì đổi sang trấu được không?
Nên giữ kho dăm bao nhiêu ngày?
Có nên ký hợp đồng mua dăm dài hạn lúc giá cao?
Lò đang thiếu dăm? Vương Long Boiler xem lại nhiên liệu cùng anh chị
Gửi loại nhiên liệu, độ ẩm và thông số lò. Nghĩa Lò Hơi cùng đội kỹ thuật Vương Long Boiler sẽ xem buồng đốt có đốt được nhiên liệu thay thế hay không.
khinhietdienvuonglong@gmail.com · congnghelohoi@gmail.com · Xem bản đồ →
Tham khảo: Mekong ASEAN, xuất khẩu dăm gỗ và viên nén 2026, dẫn báo cáo Forest Trends và số liệu Cục Hải quan; VnEconomy, cơn khát gỗ lớn; Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu dăm gỗ và nguyên liệu chế biến sâu. QCVN 19:2024/BTNMT về khí thải công nghiệp. Xem thêm cách quy nhiệt trị về giá 1 tấn hơi.












