Đo chiều dày lò hơi bằng siêu âm: Thép còn bao nhiêu mm thì lò còn “sống” được bao lâu?

LO HOI DOT CUI

LO HOI DOT CUI, DOT VAI

Đo chiều dày lò hơi bằng siêu âm và đọc kết quả | Vương Long

đo chiều dày lò hơi bằng siêu âm, đo chiều dày nồi hơi, siêu âm chiều dày thép lò hơi, ăn mòn lò hơi, tuổi thọ lò hơi, kiểm định lò hơi
Đo chiều dày lò hơi bằng siêu âm: đo ở đâu, đọc kết quả ra sao, tự tính lò còn chạy bao lâu trước khi phải thay thép. Gọi ngay 09 6789 1338 để được tư vấn.

1272, Nguyễn Chí Thanh, Tổ 2, Khu 1, Phường Hiệp An, TP. Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương

Hotline: 0967.960.906 - 0899.960.906 - 09.6789.1338

Đo chiều dày lò hơi bằng siêu âm: Thép còn bao nhiêu mm thì lò còn “sống” được bao lâu?
Vương Long Boiler · Tin kỹ thuật
Đo chiều dày lò hơi bằng siêu âm: Thép còn bao nhiêu mm thì lò còn “sống” được bao lâu?

Đo chiều dày lò hơi bằng siêu âm là cách duy nhất biết thân lò, ống lửa, mặt sàng còn dày bao nhiêu mà không phải cắt thép. Lò vẫn chạy đều không có nghĩa là thép còn đủ dày: ăn mòn đáy lò, rỗ ống lửa, mỏng vùng xả đáy diễn ra âm thầm nhiều năm. Bài này giúp nhà máy biết khi nào cần đo, đo ở đâu, đọc kết quả ra sao và tự ước tính tuổi thọ còn lại.

0,1 mmđộ phân giải phổ biến của máy đo chiều dày siêu âm (tham khảo)
5.920 m/svận tốc sóng dọc trong thép cacbon, dùng để hiệu chuẩn
≥ 30–50 điểmsố điểm đo hợp lý cho một nồi hơi ống lửa cỡ nhỏ
Đọc nhanh trong 30 giây
  • Siêu âm đo được chiều dày thép từ một phía, không cần cắt, lò chỉ cần ngừng và nguội.
  • Vùng hay mỏng nhất: đáy lò và vùng xả đáy, mặt nước dao động, ống lửa gần buồng đốt, mặt sàng quanh đầu ống, đáy ống khói.
  • Một con số không nói lên nhiều: phải so với chiều dày thiết kế, chiều dày tối thiểu tính toán và kết quả lần đo trước.
  • Tốc độ mỏng (mm/năm) cho biết lò còn chạy an toàn bao lâu – công thức ở mục 5.
  • Kết quả đo phục vụ kiểm định và quyết định sửa hay thay; không tự ý tăng áp hay kéo dài kỳ kiểm định.

1. Vì sao lò vẫn chạy mà thép đã mỏng?

Thép lò hơi không hỏng một lần. Nó mất dần từng phần mười milimét mỗi năm vì ăn mòn oxy hòa tan trong nước cấp, ăn mòn dưới lớp cáu cặn, ăn mòn điểm sương phía khói và mài mòn do tro bụi. Áp suất làm việc vẫn giữ được, van an toàn vẫn chưa nhảy, đồng hồ vẫn chỉ 8 bar. Chỉ đến khi một điểm đã mỏng quá giới hạn thì thép mới phồng, nứt hoặc xì.

Nhìn bằng mắt rất khó đánh giá. Mặt trong đáy lò thường phủ bùn, mặt ngoài phủ bảo ôn và tôn. Ống lửa phủ muội. Rỗ ăn mòn có thể sâu 3–4 mm nhưng miệng chỉ bằng hạt đậu. Vì vậy các đơn vị kiểm định và đơn vị sửa chữa dùng máy đo chiều dày siêu âm để có số liệu thay cho cảm tính.

Với chủ nhà máy, con số chiều dày còn lại quyết định ba việc lớn: lò còn được kiểm định cho chạy ở áp suất cũ không, cần vá hay thay từng phần nào, và có nên đầu tư lò mới trong 1–2 năm tới không. Đo sớm, đo đúng chỗ giúp lập kế hoạch thay vì chờ sự cố bắt dừng máy giữa vụ.

Ảnh thực tếĐo chiều dày lò hơi bằng siêu âm – ống lửa nhìn từ buồng khói khi lò ngừng bảo trì
Ống lửa nhìn từ buồng khói khi lò ngừng bảo trì – vị trí cần làm sạch muội trước khi đo chiều dày

2. Đo chiều dày lò hơi bằng siêu âm hoạt động thế nào?

Đầu dò phát một xung sóng siêu âm tần số cao (thường 2–10 MHz) vào thép qua lớp chất tiếp âm (gel, dầu, glycerin). Sóng đi tới mặt bên kia, dội lại và quay về đầu dò. Máy đo thời gian đi – về rồi nhân với vận tốc âm trong thép, chia đôi, ra chiều dày.

Chiều dày (mm) = Vận tốc âm trong vật liệu (m/s) × Thời gian đi – về (µs) ÷ 2 ÷ 1.000

Với thép cacbon, vận tốc sóng dọc khoảng 5.900–5.950 m/s. Nếu máy đặt sai vận tốc 2% thì kết quả lệch 2%: thép dày 10 mm có thể đọc thành 9,8 hoặc 10,2 mm. Vì thế trước mỗi buổi đo phải hiệu chuẩn trên mẫu chuẩn cùng loại thép, hoặc trên một điểm của lò đã biết chiều dày chính xác.

Hai chế độ đo cần biết

Chế độ xung – dội thường

Đo từ mặt thép đã cạo sạch sơn, gỉ. Phù hợp đa số vị trí thân lò, ống lửa, mặt sàng. Lớp sơn còn lại sẽ bị cộng vào chiều dày nên phải cạo tới thép sáng.

Chế độ dội – dội (echo-echo)

Máy chỉ đo khoảng cách giữa hai lần dội trong thép nên bỏ qua lớp sơn mỏng. Dùng cho mặt ngoài đã sơn, ống khói, bồn chứa, khi không được phép cạo sơn.

Đầu dò đơn tinh thể

Cho kết quả rõ trên thép phẳng, sạch. Ít nhạy với rỗ ăn mòn mặt trong, dễ bỏ sót điểm mỏng nhất.

Đầu dò kép (dual)

Hai tinh thể phát – thu riêng, bắt được đáy rỗ và mặt trong gồ ghề tốt hơn. Đây là loại nên dùng cho thiết bị đã ăn mòn.

Đo điểm

Mỗi lần đặt đầu dò cho một số. Nhanh, rẻ nhưng chỉ đại diện cho vùng nhỏ cỡ đồng xu.

Quét lưới

Đánh lưới 50×50 hoặc 100×100 mm, đo từng ô, vẽ bản đồ chiều dày. Dùng cho vùng nghi ngờ như đáy lò, vùng mực nước.

Siêu âm đo chiều dày không thay cho các phép kiểm tra khác: nứt mối hàn cần siêu âm khuyết tật, thẩm thấu hoặc từ tính; phồng thép cần đo biến dạng; cáu cặn cần mở lò quan sát và phân tích mẫu.

3. Đo ở đâu trên lò hơi? Bản đồ vùng hay mỏng

Đo đều khắp thân lò rất tốn công mà không cần thiết. Kinh nghiệm hiện trường cho thấy thép mất nhanh ở những vùng có nước đọng, có bùn, nhiệt độ cao hoặc khói ngưng tụ. Danh sách dưới đây áp dụng cho nồi hơi ống lửa và lò ống lửa – ống nước kiểu phổ biến trong nhà máy vừa và nhỏ.

Vùng đoVì sao dễ mỏngMật độ điểm gợi ý (tham khảo)So sánh
Đáy thân lò, quanh ống xả đáyBùn cặn lắng, ăn mòn dưới cặn, oxy đọng khi lò ngừngLưới 100 mm, dày hơn quanh miệng xả
Vùng mực nước dao độngƯớt – khô liên tục, oxy tiếp xúc nhiều3–4 vòng đo quanh chu vi
Ống lửa / buồng lửa đoạn gần buồng đốtNhiệt độ vách cao, cáu cặn phía nước làm thép quá nhiệtMỗi 300–500 mm theo chiều dài, 4 điểm quanh chu vi
Mặt sàng (đầu ống)Mỏng quanh lỗ ống, ăn mòn khe hở, giãn nở4 điểm quanh một số đầu ống đại diện
Ống nước, ống góp (nếu có)Ăn mòn trong, mài mòn tro phía khóiĐo tại khuỷu và đoạn gần vùng lửa
Buồng khói, ống dẫn khói, đáy ống khóiKhói ngưng tụ axit khi lò chạy non tảiĐo điểm, ưu tiên chỗ đọng nước

Ngoài các vùng trên, luôn đo lại đúng các điểm của lần trước. Đánh dấu điểm bằng sơn bền nhiệt hoặc ghi rõ trên bản vẽ khai triển lò. Có cùng điểm qua nhiều năm thì mới tính được tốc độ ăn mòn đáng tin.

Nồi hơi cũ gỉ sét cần đánh giá chiều dày trước khi quyết định thay
Nồi hơi cũ gỉ sét – trường hợp cần số đo chiều dày để quyết định sửa hay thay
Thân nồi hơi cũ bị cháy thủng lớp bảo ôn
Lớp bảo ôn cháy thủng – sau khi tháo bảo ôn mới đo được thân lò

Ảnh hiện trường của đội kỹ thuật Vương Long Boiler.

Nếu nhà máy đang chuẩn bị kiểm định định kỳ, nên ghép việc đo chiều dày vào đợt ngừng lò đó. Danh mục chuẩn bị trước kỳ kiểm định có trong bài chuẩn bị lò hơi trước kỳ kiểm định an toàn.

4. Đọc kết quả đo chiều dày lò hơi: con số nào đáng lo?

Bảng kết quả đo thường có hàng chục con số. Để đọc nhanh, so mỗi điểm với ba mốc: chiều dày danh định trong hồ sơ chế tạo, chiều dày tối thiểu tính toán theo áp suất làm việc, và kết quả lần đo trước.

Chiều dày danh định

Ghi trong lý lịch lò, bản vẽ chế tạo. Ví dụ thân lò thép tấm 12 mm, ống lửa 10 mm. Thép mới có thể dày hơn danh định một chút do dung sai cán.

Chiều dày tối thiểu tính toán

Do người thiết kế hoặc đơn vị kiểm định tính theo áp suất, đường kính, vật liệu và hệ số mối hàn theo tiêu chuẩn thiết kế. Dưới mốc này lò không được chạy ở áp suất cũ.

Lượng dự phòng ăn mòn

Khoảng chênh giữa danh định và tối thiểu. Đây là “vốn” thép lò được phép tiêu dần trong suốt tuổi thọ.

Kết quả lần trước

Cho biết thép đang mất nhanh hay chậm. Một điểm mỏng nhưng ổn định nhiều năm ít đáng lo hơn một điểm còn dày nhưng mất 0,5 mm/năm.

Một số dấu hiệu cần đặc biệt chú ý khi xem bảng kết quả:

  • Điểm mỏng tập trung một vùng nhỏ trong khi xung quanh còn dày: thường là rỗ ăn mòn hoặc ăn mòn dưới cặn – cần quét lưới dày hơn và mở lò kiểm tra mặt trong.
  • Cả một dải quanh chu vi mỏng đều: hay gặp ở vùng mực nước và đáy lò – liên quan oxy, xả đáy và bảo quản khi ngừng.
  • Máy báo số dao động hoặc không bắt được tín hiệu: có thể do rỗ sâu, tách lớp thép hoặc bề mặt chưa sạch; không lấy số đó làm kết quả.
  • Chênh lệch lớn giữa hai lần đo nhưng không có lý do: kiểm tra lại hiệu chuẩn, vị trí điểm và người đo trước khi kết luận.

Các mốc chiều dày tối thiểu phải lấy từ hồ sơ thiết kế hoặc kết luận của đơn vị kiểm định. Bài viết chỉ hướng dẫn cách đọc, không thay cho tính toán sức bền của lò cụ thể.

5. Tự ước tính tốc độ mỏng và tuổi thọ còn lại

Khi đã có số đo tại cùng một điểm qua hai lần đo trở lên, nhà máy có thể tự ước tính lò còn chạy được bao lâu trước khi chạm chiều dày tối thiểu. Đây là phép tính nhanh để lên kế hoạch ngân sách, không phải kết luận kỹ thuật.

Tốc độ mỏng (mm/năm) = (Chiều dày lần trước − Chiều dày lần này) ÷ Số năm giữa hai lần đo
Thời gian còn lại (năm) = (Chiều dày hiện tại − Chiều dày tối thiểu) ÷ Tốc độ mỏng

Ví dụ giả định: đáy thân lò thiết kế 12 mm, chiều dày tối thiểu tính toán 9,0 mm. Năm 2023 đo được 11,2 mm, năm 2026 đo được 10,3 mm tại cùng điểm.

BướcPhép tínhKết quả (giả định)So sánh
Tốc độ mỏng(11,2 − 10,3) ÷ 3 năm0,30 mm/năm
Phần thép còn được tiêu10,3 − 9,01,3 mm
Thời gian còn lại1,3 ÷ 0,30≈ 4,3 năm
Nếu chỉ dùng một nửa làm hệ số an toàn4,3 ÷ 2≈ 2 năm để lên kế hoạch xử lý

Cách dùng một nửa thời gian còn lại làm mốc lập kế hoạch là thói quen thận trọng nhiều kỹ sư áp dụng, vì tốc độ ăn mòn có thể tăng khi nước cấp xấu đi hoặc lò chạy nhiều giờ hơn. Nếu tốc độ mỏng lớn hơn 0,3–0,5 mm/năm (mức tham khảo), cần tìm nguyên nhân gốc trước khi vá: nước cấp còn oxy, xả đáy không đủ, lò ngừng dài ngày để nước đọng, hay khói ngưng tụ do chạy non tải.

Số liệu trong ví dụ là giả định để minh họa cách tính, không thay cho đo đạc và kết luận của đơn vị kiểm định đối với lò của nhà máy.

Quy ra tiền cho nhà máy

Biết lò còn khoảng 2 năm, nhà máy có thời gian so ba phương án: vá – thay từng đoạn vùng mỏng, thay thân lò giữ lại buồng đốt và phụ trợ, hoặc đầu tư lò mới. Mỗi phương án có chi phí, thời gian ngừng máy và rủi ro khác nhau. Không có số đo, quyết định thường bị ép bởi sự cố, khi đó chi phí ngừng sản xuất thường lớn hơn chi phí sửa.

Nghĩa Lò Hơi tại nhà xưởng Vương LongNghĩa Lò Hơi lưu ý từ hiện trường

Nhiều lò tôi gặp ở hiện trường còn chạy êm nhưng đáy lò đã mất gần hết phần dự phòng ăn mòn. Lý do hay gặp nhất là xả đáy không đều và để nước nằm trong lò cả tháng khi nghỉ Tết. Đo chiều dày không khó, cái khó là đo lại đúng điểm cũ mỗi năm để thấy xu hướng.

Lời khuyên của tôi: lưu bảng đo kèm bản vẽ khai triển trong lý lịch lò, mỗi lần kiểm định hay sửa chữa đều yêu cầu đo lại các điểm đó. Chỉ vài giờ ngừng lò nhưng giúp nhà máy chủ động ngân sách thay vì bị động.

Cảnh báo an toàn: Chỉ đo khi lò đã ngừng, xả áp về 0, cô lập van hơi – van nước cấp – van nhiên liệu, khóa và treo biển nguồn điện quạt, bơm, burner. Thép cần nguội dưới khoảng 60°C nếu không dùng đầu dò và chất tiếp âm chịu nhiệt. Vào trong thân lò hoặc buồng đốt phải thông gió, đo khí, có người giám sát bên ngoài và đèn điện áp an toàn. Không tự ý tăng áp suất làm việc hay bỏ qua kỳ kiểm định dựa trên kết quả tự đo.

6. Quy trình đo chiều dày khi Vương Long Boiler sửa chữa, bảo trì lò

Khi nhận bảo trì, sửa chữa hoặc khảo sát cải tạo lò, đội kỹ thuật Vương Long Boiler phối hợp với nhà máy và đơn vị kiểm định theo trình tự dưới đây. Mục tiêu là có số liệu đủ tin để quyết định, không đo tràn lan.

  1. Xem hồ sơ lòLý lịch, bản vẽ, chiều dày danh định, biên bản kiểm định và kết quả đo các lần trước nếu có.
  2. Ngừng lò an toànXả áp, xả nước, cô lập, làm nguội, mở cửa người chui, vệ sinh muội phía khói và bùn phía nước.
  3. Vẽ sơ đồ điểm đoĐánh dấu vùng hay mỏng, giữ lại điểm cũ, thêm lưới dày ở vùng nghi ngờ.
  4. Làm sạch và đoCạo tới thép sáng hoặc dùng chế độ dội – dội; hiệu chuẩn máy; mỗi điểm đo lặp 2–3 lần, ghi giá trị nhỏ nhất.
  5. Tổng hợp và đề xuấtLập bảng so với danh định – tối thiểu – lần trước, tính tốc độ mỏng, đề xuất theo dõi, vá, thay đoạn hay thay lò; kết luận cho phép vận hành do đơn vị kiểm định quyết định.
Mặt sàng ống lửa nồi hơi khi mở cửa khói kiểm tra
Mặt sàng ống lửa khi mở cửa khói kiểm tra
Bên trong nồi hơi ống lửa khi tẩy cáu cặn
Mặt trong lò khi tẩy cáu cặn – làm sạch trước khi đánh giá ăn mòn
Thợ hàn lắp đặt thân nồi hơi khi cải tạo
Thay thân lò khi cải tạo – quyết định dựa trên số liệu chiều dày

Ảnh hiện trường của đội kỹ thuật Vương Long Boiler.

Nếu kết quả đo cho thấy ăn mòn dưới cặn, bước tiếp theo nên là lấy mẫu cặn để chọn đúng hóa chất tẩy, tránh tẩy quá tay làm mỏng thêm thép. Xem thêm dịch vụ phân tích mẫu cặn lò hơi. Khi đã quyết định sửa, có thể tham khảo dịch vụ sửa chữa lò hơi của VLB Boiler trong cùng hệ thống Vương Long Group.

7. Checklist cho trưởng cơ điện trước buổi đo

  • Có lý lịch lò, chiều dày danh định của thân, ống lửa, mặt sàng, đáy
  • Có kết quả đo các lần trước và sơ đồ điểm đo cũ
  • Lịch ngừng lò đủ thời gian xả, nguội, vệ sinh (thường 1–2 ca)
  • Đã lên phương án cô lập năng lượng, khóa và treo biển
  • Đã vệ sinh muội phía khói và bùn phía nước tại vùng đo
  • Thống nhất người đo, máy đo, mẫu hiệu chuẩn, đầu dò kép cho vùng ăn mòn
  • Biểu mẫu ghi kết quả có ô cho từng điểm, nhiệt độ thép, người đo
  • Có kế hoạch xử lý ngay nếu gặp điểm dưới chiều dày tối thiểu

Đo chiều dày chỉ có giá trị khi đi cùng việc xử lý nguyên nhân. Phần lớn ăn mòn mặt trong bắt nguồn từ nước cấp, nên kiểm tra lại quy trình xử lý nước cấp cho lò hơi song song với kết quả đo. Muốn biết khi nào nên dừng sửa và tính chuyện thay lò, xem bài lò hơi dùng được bao nhiêu năm.

Câu hỏi thường gặp

Đo chiều dày lò hơi bằng siêu âm có phải dừng lò không?

Có. Lò phải ngừng, xả áp về 0, cô lập và nguội để đo an toàn và chính xác. Một số vị trí bên ngoài như ống khói có thể đo khi đang chạy nếu dùng đầu dò và chất tiếp âm chịu nhiệt, nhưng thân lò, ống lửa, mặt sàng thì phải ngừng, vệ sinh muội và bùn rồi mới đo được kết quả tin cậy.

Bao lâu nên đo chiều dày lò hơi một lần?

Nên đo vào mỗi kỳ kiểm định định kỳ hoặc mỗi lần ngừng lò bảo trì lớn, tối thiểu 1 lần/năm với lò trên 10 năm tuổi hoặc lò đã có dấu hiệu ăn mòn. Lò mới, nước cấp tốt có thể giãn hơn, nhưng cần ít nhất 2 lần đo cách nhau vài năm để biết tốc độ mỏng.

Thép lò hơi mỏng bao nhiêu thì phải thay?

Phải thay hoặc sửa khi chiều dày còn lại thấp hơn chiều dày tối thiểu tính toán cho áp suất làm việc của chính lò đó. Mốc này phụ thuộc đường kính, vật liệu, áp suất và kiểu mối hàn, do người thiết kế hoặc đơn vị kiểm định tính. Không có một con số chung cho mọi lò.

Có thể đo chiều dày qua lớp sơn không?

Có thể nếu máy có chế độ dội – dội (echo-echo), vì chế độ này bỏ qua lớp sơn mỏng. Với chế độ đo thường, lớp sơn bị cộng vào chiều dày nên phải cạo sạch tới thép sáng. Lớp gỉ dày hoặc bong tróc thì luôn phải làm sạch trước khi đo.

Kết quả đo chiều dày có thay được biên bản kiểm định không?

Không. Số đo chiều dày là một phần dữ liệu đầu vào của kiểm định và của quyết định sửa chữa. Việc cho phép lò vận hành, ở áp suất nào, thời hạn bao lâu do tổ chức kiểm định có thẩm quyền kết luận sau khi kiểm tra đầy đủ.

Nghĩa Lò Hơi – chuyên gia thiết bị áp lực Vương Long Group tại nhà xưởng
Tác giả bài viết
Nghĩa Lò Hơi
Chuyên gia thiết bị áp lực, Vương Long Group
Hơn 10 năm thực chiếnLò hơi công nghiệpAn toàn thiết bị áp lực

Trực tiếp khảo sát, lắp đặt và xử lý sự cố lò hơi tại nhà máy. Tư vấn kỹ thuật miễn phí qua Hotline/Zalo 09 6789 1338 (Mr. Nghĩa).

Vương Long Boiler · Khảo sát chiều dày lò

Lò đã chạy nhiều năm? Đo chiều dày trước khi quyết định sửa hay thay

Gọi kỹ sư Vương Long Boiler để được tư vấn lịch ngừng lò, vùng cần đo và phương án xử lý sau khi có số liệu.

Công ty TNHH Khí Nhiệt Điện Vương Long1272 Nguyễn Chí Thanh, P. Phú An, TP. Hồ Chí Minh
congnghelohoi@gmail.com · Xem bản đồ →

Xem thêm trên hệ thống Vương Long Group

Tham khảo: Nguyên lý đo chiều dày siêu âm xung – dội; vận tốc âm trong thép cacbon ~5.900–5.950 m/s (tài liệu NDT phổ thông); QCVN 01:2008/BLĐTBXH về an toàn lao động nồi hơi và bình chịu áp lực. Xem thêm checklist trước kỳ kiểm định.

Dịch vụ tiêu biểu

Những dịch vụ tiêu biểu nhất của Khí Nhiệt Điện Vương Long

Tin tức - sự kiện
Video - clips