Chuyện biomass CBAM lò hơi đang bị hiểu sai ở một điểm: đổi sang củi, trấu, viên nén không tự động thành số 0 trong báo cáo. Con số chỉ thuyết phục khi nhà máy chứng minh được nguồn gốc nhiên liệu và có sổ sách đủ dùng.
- CBAM hiện chỉ áp dụng cho 6 nhóm hàng: xi măng, sắt thép, nhôm, phân bón, điện, hydro, theo mã hàng cụ thể.
- Nếu hàng thuộc CBAM, sinh khối dùng làm nhiên liệu bị tính vào phát thải, trừ khi đạt tiêu chí bền vững và tiết kiệm khí nhà kính của Chỉ thị (EU) 2018/2001.
- Nhà máy ngoài nhóm CBAM vẫn có thể bị khách hỏi số liệu phát thải theo yêu cầu riêng của chuỗi cung ứng.
- Việc làm ngay: ghi sổ nhiên liệu, lưu hóa đơn nguồn gốc, đo sản lượng hơi.
Một nhà máy thay lò dầu bằng lò sinh khối, tiền nhiên liệu giảm rõ, ai cũng nhẹ người. Rồi một ngày khách châu Âu gửi bảng câu hỏi: nhiên liệu mua của ai, rừng nào, bao nhiêu tấn mỗi tháng, mỗi tấn sản phẩm dùng bao nhiêu hơi. Phòng lò chỉ có cuốn sổ ghi tay, phiếu cân thất lạc, hóa đơn ghi chung chung là củi. Đốt sạch chưa chắc đã chứng minh được là sạch.
Tình huống trên là ví dụ dựng để minh họa, không nói về một công ty cụ thể. Bài này của Vương Long Boiler giải thích CBAM áp dụng đến đâu, vì sao sinh khối chưa chắc được tính bằng 0, và phòng lò cần giữ số liệu gì để không bị động khi khách hỏi.
1. “0 phát thải” là quy ước tính toán, không phải chất lượng khói
Ống khói lò sinh khối vẫn thải CO₂. Cây hấp thu carbon khi lớn lên, nên nhiều bộ quy tắc cho phép tính riêng hoặc không tính phần CO₂ sinh học. Nhưng quy ước này có điều kiện. Nguồn gỗ phải rõ, rừng không bị chuyển đổi trái phép, chuỗi cung ứng phải truy được. Khách hàng không đọc được điều đó từ màu khói, họ đọc từ hồ sơ.
Cũng cần tách 2 khái niệm. Khí thải theo QCVN 19:2024/BTNMT nói về bụi, CO, SO₂, NOx ở ống khói, đo bằng quan trắc. Phát thải khí nhà kính lại tính từ lượng nhiên liệu nhân hệ số. Lò đạt QCVN vẫn có thể bị khách hỏi số carbon, và ngược lại, sổ carbon đẹp không thay được báo cáo quan trắc. Các giải pháp khói bụi có trong bài cải tạo hệ thống xử lý khói bụi.
2. CBAM áp dụng cho ai, không áp dụng cho ai
CBAM là cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU. Theo Trung tâm WTO và Hội nhập, cơ chế này hiện áp dụng cho 6 nhóm: xi măng, sắt thép, nhôm, phân bón, điện và hydro. Không phải mọi sản phẩm trong các nhóm này đều thuộc diện, chỉ những hàng có mã CN 8 số trong phụ lục Quy định 2023/956. Vì vậy, bước đầu tiên là tra mã hàng, không phải đoán theo tên ngành.
| Nhà máy | Quan hệ với CBAM | Việc nên làm |
|---|---|---|
| Hàng có mã CN nằm trong phụ lục | Thuộc diện, nhà nhập khẩu EU cần số liệu phát thải của hàng | Làm việc với nhà nhập khẩu, tính phát thải theo hướng dẫn CBAM |
| Hàng chưa thuộc diện, xuất sang EU | Không áp trực tiếp, nhưng khách có thể hỏi theo yêu cầu riêng | Giữ sổ nhiên liệu, hỏi rõ khách cần biểu mẫu nào |
| Bán trong nước, cơ sở có trong danh mục kiểm kê | Không liên quan CBAM, nhưng có nghĩa vụ kiểm kê khí nhà kính trong nước | Tra Quyết định 42/2026/QĐ-TTg, chuẩn bị báo cáo trước 31/3/2027 |
Ngoài ra, EU đang bàn mở rộng CBAM sang sản phẩm hạ nguồn. Hội đồng EU thống nhất lập trường ngày 12/6/2026, Nghị viện châu Âu thông qua lập trường đàm phán ngày 15/9/2026, và hai bên đang đàm phán văn bản cuối. Theo Trung tâm WTO và Hội nhập, danh sách được bàn gồm ốc vít, đồ gia dụng, máy móc, xe cơ giới và cả nồi hơi. Mốc dự kiến là 01/01/2028, nhưng danh sách sản phẩm chỉ ràng buộc khi có văn bản cuối, nên doanh nghiệp chưa nên coi đây là quy định đã có hiệu lực.
3. Biomass CBAM lò hơi: Khi nào sinh khối bị tính, khi nào không
Theo hướng dẫn được Trung tâm WTO và Hội nhập tóm tắt, khai báo CBAM chia sinh khối thành 2 trường hợp. Nếu sinh khối là đầu vào của quy trình, ví dụ than củi làm chất khử trong lò cao, phát thải tính bằng 0. Nếu sinh khối dùng làm nhiên liệu, tức cho mục đích năng lượng như đốt lò hơi, lượng khí thải được cộng vào tổng phát thải của hàng hóa, trừ khi sinh khối đạt tiêu chí bền vững và tiết kiệm khí nhà kính của Chỉ thị (EU) 2018/2001.
Đạt tiêu chí
Có hồ sơ chứng minh theo Chỉ thị (EU) 2018/2001, phần phát thải từ sinh khối nhiên liệu không bị cộng vào tổng của hàng CBAM.
Không đạt hoặc không chứng minh được
Phần phát thải bị tính vào tổng. Theo giả định ở mục 4, con số còn có thể không thấp hơn than.
Phế phẩm, phụ phẩm
Trấu, vỏ điều, mùn cưa là phụ phẩm, nhưng cách xếp loại phải theo hướng dẫn và hồ sơ của từng trường hợp, không tự suy ra.
Nhiên liệu trộn
Đốt chung với than, phế liệu nhựa hay vải thì phải tách được tỉ lệ từng loại. Không tách được thì khó bảo vệ số liệu.
4. Tự tính: CO₂ ở ống khói cho 1 tấn hơi
Để thấy vì sao không nên nói một câu đốt củi là không phát thải, hãy tính CO₂ thật sự ra ống khói cho 1 tấn hơi. Phép tính dùng hệ số mặc định của IPCC 2006, 640 kcal cho mỗi kg hơi. Hiệu suất lấy 75% với củi và than, 87% với dầu DO, 88% với gas.
CO₂ (kg/tấn hơi) = Nhiệt đầu vào (GJ) × Hệ số phát thải (kg CO₂/GJ)Củi: 640.000 kcal ÷ 0,75 ≈ 3,57 GJ; 3,57 × 112 ≈ 400 kg CO₂.
| Nhiên liệu | Nhiệt đầu vào (GJ) | Hệ số IPCC (kg/GJ) | CO₂ ra ống khói (kg) | So sánh |
|---|---|---|---|---|
| Củi, gỗ | 3,57 | 112 | ~400 | |
| Than bitum | 3,57 | 94,6 | ~338 | |
| Dầu DO | 3,08 | 74,1 | ~228 | |
| LPG | 3,04 | 63,1 | ~192 |
Đây là ước tính lý thuyết theo giả định, chỉ tính CO₂ ở ống khói, chưa tính CH₄, N₂O và phát thải từ khai thác, vận chuyển. Không thay cho báo cáo kiểm kê thật của nhà máy.
Kết quả gây bất ngờ cho nhiều người: xét riêng ống khói, củi còn thải nhiều CO₂ hơn than theo cùng giả định. Sinh khối có lợi thế nhờ quy ước về carbon sinh học và nguồn tái tạo, không phải vì đốt ít CO₂ hơn. Nếu nhà máy mất quy ước đó do không có hồ sơ, con số báo cho khách có thể không đẹp như mong đợi. Điều này không có nghĩa lò biomass là lựa chọn sai, vì nó vẫn có lợi về tiền nhiên liệu, xem bài chuyển đổi lò dầu sang biomass. Nó chỉ có nghĩa là không nên hứa điều chưa chứng minh được.
Tôi hay gặp nhà máy ghi trong hồ sơ một dòng rất chung là đốt nhiên liệu sinh khối. Khách đọc dòng đó sẽ hỏi ngay loại gì, mua ở đâu, mỗi tháng bao nhiêu. Nên ghi rõ từ đầu.
Đừng chờ khách hỏi mới dựng sổ. Số liệu ghi từ hôm nay mới có đủ 12 tháng cho kỳ sau. Số liệu dựng lại từ trí nhớ thì rất dễ bị hỏi ngược.
Đồng hồ đo hơi không chỉ để làm báo cáo. Nó cho biết lò đang tốn bao nhiêu củi cho mỗi tấn hơi, nên tiền đầu tư có ích ngay cả khi khách chưa hỏi.
5. Khách châu Âu thường hỏi gì về lò hơi
Mỗi khách có biểu mẫu riêng, nhưng theo các trao đổi phổ biến về Scope 1, 2, 3, câu hỏi thường quanh 3 chữ: dữ liệu, nguồn gốc, kế hoạch. Trung tâm WTO và Hội nhập cũng nêu tính toàn vẹn của dữ liệu phát thải, khả năng truy xuất nguồn gốc và kế hoạch chuyển đổi đáng tin cậy là 3 yêu cầu không thể thương lượng với doanh nghiệp Việt. Dưới đây là danh sách phòng lò nên chuẩn bị sẵn.
Loại nhiên liệu
Dăm gỗ, viên nén, trấu, vỏ điều hay củi, tỉ lệ từng loại theo tháng, có trộn than hay phế liệu khác không.
Khối lượng và độ ẩm
Phiếu cân, hóa đơn, số liệu đo ẩm. Cùng 1 tấn củi ướt và củi khô cho nhiệt rất khác nhau, xem bài quy về giá 1 tấn hơi.
Nguồn gốc
Nhà cung cấp, vùng thu mua, giấy tờ lâm sản nếu là gỗ, chứng nhận nếu khách yêu cầu. Nguồn dăm gỗ còn cạnh tranh với xuất khẩu, xem bài dăm gỗ xuất khẩu.
Sản lượng hơi
Tổng hơi mỗi tháng, hơi cho từng xưởng hoặc sản phẩm. Không có đồng hồ thì chỉ chia ước lượng.
Hiệu suất lò
Kết quả đo nhiệt độ khói, O₂, lịch bảo trì. Khách muốn biết nhà máy có kế hoạch giảm tiêu hao hay không.
Quan trắc khí thải
Báo cáo quan trắc, giấy phép môi trường, tiêu chuẩn áp dụng. Phần này khác với số liệu carbon nhưng hay được hỏi cùng lúc.
Ảnh hiện trường của đội kỹ thuật Vương Long, chỉ minh họa cho nội dung bài.
6. Chuẩn bị hồ sơ phòng lò trong 5 bước
- Tra mã hàng: Hỏi bộ phận xuất khẩu mã CN của sản phẩm, đối chiếu phụ lục Quy định 2023/956 và hỏi nhà nhập khẩu biểu mẫu họ cần.
- Lập sổ nhiên liệu: Ghi ngày nhập, nhà cung cấp, loại, khối lượng, độ ẩm, số phiếu cân, số hóa đơn. Ghi lượng đưa vào lò theo ca.
- Lắp điểm đo: Đồng hồ đo hơi, công tơ điện phòng lò, nhật ký nhiệt độ khói. Tham khảo bài đồng hồ đo lưu lượng hơi.
- Gom chứng từ nguồn gốc: Hợp đồng nhà cung cấp, giấy tờ lâm sản, cam kết nguồn. Hỏi khách có yêu cầu chứng nhận cụ thể nào không.
- Đối chiếu mỗi tháng: So lượng nhập, tồn kho, lượng đốt và sản lượng hơi. Chênh nhiều thì tìm nguyên nhân ngay, đừng để cuối năm.
An toàn: Khi trộn nhiên liệu lạ vào lò để làm đẹp tỉ lệ sinh khối, lò có thể cháy không ổn định, đóng xỉ và vượt ngưỡng khí thải. Mọi thay đổi nhiên liệu phải kiểm tra thiết kế buồng đốt, hệ cấp liệu và thiết bị an toàn trước khi chạy.
Vương Long Boiler có kinh nghiệm gần 20 năm với lò hơi và thiết bị nhiệt. Đội kỹ thuật có thể tư vấn và lắp đồng hồ đo hơi, kiểm tra đường ống, bẫy hơi, bảo ôn, giúp phòng lò có số liệu rõ hơn. Phần tính báo cáo carbon, chứng nhận nguồn gốc và thẩm tra là việc của đơn vị chuyên trách.
7. Tự kiểm tra: Phòng lò đã trả lời được khách chưa
- Đã biết sản phẩm có thuộc mã CN trong phạm vi CBAM hay không.
- Đã hỏi khách đang cần biểu mẫu nào, kỳ số liệu nào.
- Có sổ nhiên liệu đủ 12 tháng, tách theo từng loại.
- Mỗi lô nhiên liệu truy được về phiếu cân và hóa đơn.
- Có số đo độ ẩm ở các lô chính.
- Có sản lượng hơi hoặc cách ước tính nêu rõ.
- Đã tra tên cơ sở trong danh mục 2.441 cơ sở của Quyết định 42/2026/QĐ-TTg.
- Không để câu không phát thải trong tài liệu bán hàng khi chưa có hồ sơ chứng minh.
Nhà máy dệt, gỗ xuất sang châu Âu có thuộc CBAM không?
Biomass CBAM lò hơi được tính bằng 0 khi nào?
Đốt củi có thật sự thải CO₂ không?
Nhà máy nhỏ cần làm gì trước?
Đề xuất mở rộng CBAM có nhắc tới nồi hơi không?
Khách hỏi số liệu lò hơi mà nhà máy chưa có?
Gọi Vương Long Boiler để cùng rà sổ nhiên liệu, đồng hồ hơi và hiệu suất lò tại nhà máy.
khinhietdienvuonglong@gmail.com · congnghelohoi@gmail.com · Xem bản đồ →
Tham khảo: Trung tâm WTO và Hội nhập (VCCI) về phạm vi CBAM, cách tính sinh khối và đề xuất mở rộng ngày 12/6/2026; Mayer Brown 7/10/2026 và CBAM Guide 15/9/2026 về tiến trình lập pháp; Quy định (EU) 2023/956; Chỉ thị (EU) 2018/2001; Quyết định 42/2026/QĐ-TTg qua VCCI; VnEconomy về yêu cầu Scope 1, 2, 3; hệ số mặc định IPCC 2006. Bài chỉ có tính chất thông tin, không phải tư vấn pháp lý. Nhà máy cần đối chiếu văn bản gốc và yêu cầu của nhà nhập khẩu.












