Ống góp hơi lò hơi chỉ là một đoạn ống ngắn ngay sau lò, nhưng nó quyết định hơi về từng xưởng có đều và có khô hay không. Bài này lấy lò 5 tấn hơi mỗi giờ làm ví dụ để anh chị tự kéo thử cỡ ống, tính chia nhánh và biết chỗ nào bắt buộc phải có đường xả nước ngưng.
Ống góp hơi lò hơi làm việc gì mà ống thường không làm được?
Ống góp hơi lò hơi là đoạn ống lớn đặt ngay sau van hơi chính, nhận toàn bộ hơi của lò rồi chia về các nhánh. Có nơi gọi là ống phân phối hơi, có nơi gọi là header. Tên gọi khác nhau nhưng việc của nó giống nhau: gom hơi, làm hơi chậm lại, chia hơi ra từng nhánh có van riêng, và cho nước ngưng một chỗ để rơi xuống.
Nhiều xưởng xem đây là chi tiết phụ, nên ống góp được chọn theo cỡ ống có sẵn trong kho. Lò mới chạy thì chưa thấy gì. Tới lúc thêm máy, dấu hiệu mới hiện ra: mở nhánh này thì nhánh kia tụt áp, máy gần lò nóng nhanh còn máy xa thì lề mề, thỉnh thoảng lại có tiếng gõ trong ống vào đầu ca.
Lý do nằm ở bốn vai trò mà ống góp phải làm cùng lúc:
Làm dịu dòng hơi
Hơi ra khỏi lò đi nhanh trong ống cổ lò. Vào ống lớn hơn, tốc độ giảm, các nhánh hút hơi ít ảnh hưởng tới nhau hơn.Chia tải có kiểm soát
Mỗi nhánh có van riêng. Dừng một xưởng để sửa không phải dừng cả tuyến, không phải tắt lò.Tách bớt nước cuốn theo
Hơi chậm lại thì giọt nước dễ rơi xuống đáy ống. Đáy ống là nơi thu nước, đỉnh ống là nơi lấy hơi.Làm mốc đọc áp
Đồng hồ áp ở ống góp là số gốc để so với áp cuối tuyến. Không có số này thì khó biết hơi mất ở đoạn nào.Bài này chỉ nói riêng về đoạn ống góp. Phần đi ống từ phòng lò tới xưởng, độ dốc tuyến và bẫy hơi dọc đường đã có trong bài lắp đặt hệ thống đường ống hơi nhà máy. Còn chuyện lò đủ áp mà máy cuối xưởng vẫn thiếu hơi, anh chị đọc tiếp bài tổn thất áp đường ống hơi.

Kéo thử: ống góp cỡ nào cho lò 5 tấn?
Cách chọn nhanh nhất là tính tốc độ hơi. Lưu lượng khối lượng đã biết, thể tích riêng của hơi lấy theo áp, đường kính trong lấy theo cỡ ống. Chia ra sẽ có số mét trên giây. Đường ống chính thường được tính quanh 25 m/s. Ống góp thì nên chậm hơn hẳn, vì nó còn phải chia đều và tách nước. Mức nhiều người thiết kế dùng cho ống góp là khoảng từ 10 đến 15 m/s, có thể cao hơn một chút khi mặt bằng hạn chế.
Muốn xuống 12 m/s ở điều kiện này, ống cần đường kính trong khoảng 178 mm.
Ước tính lý thuyết cho hơi bão hòa khô, ống Sch40, chưa tính tải dự phòng. Số minh họa để so sánh cỡ ống, không thay cho tính toán thiết kế.
Với lò 5 tấn, kết quả tính cho ba mức áp hay gặp như sau:
| Cỡ ống | 6 bar (m/s) | 8 bar (m/s) | 10 bar (m/s) |
|---|---|---|---|
| DN100 | 46,1 | 36,3 | 30,0 |
| DN125 | 29,4 | 23,1 | 19,1 |
| DN150 | 20,3 | 16,0 | 13,2 |
| DN200 | 11,7 | 9,3 | 7,6 |
| DN250 | 7,5 | 5,9 | 4,8 |
Lưu lượng 5 t/h, hơi bão hòa khô, ống Sch40. Áp là áp kế. Số tính lý thuyết, làm tròn.
Đọc bảng sẽ thấy hai điều. Một là cùng lò 5 tấn, chạy áp càng thấp thì hơi càng chiếm chỗ, ống càng phải to. Xưởng hạ áp lò từ 8 xuống 6 bar để đỡ tốn phải kiểm tra lại ống góp, vì tốc độ trong ống tăng khoảng một phần tư. Hai là ở 8 bar, DN100 chỉ hợp làm ống cổ lò hoặc đoạn ngắn, chưa đủ chậm để gọi là ống góp.
DN150 hay DN200 cho lò 5 tấn?
Ở 8 bar, DN150 cho khoảng 16 m/s, dùng được nếu nhà máy chỉ có một lò và ít khi mở rộng. DN200 cho khoảng 9 m/s, hơi đi êm, tách nước tốt hơn và còn chỗ nếu sau này ghép thêm lò thứ hai. Giá thép và công hàn của DN200 cao hơn, nhưng thay ống góp về sau mới là việc tốn kém, vì phải dừng cả nhà máy.
Vì vậy câu hỏi nên đặt không phải là cỡ nào vừa đủ hôm nay, mà là ba năm nữa nhà máy cần bao nhiêu hơi. Xưởng đang chạy sát 5 tấn và có kế hoạch thêm dây chuyền thì nên nghĩ tới mức tải tương lai ngay từ đầu. Nếu có khả năng hai lò cùng cấp vào một ống, hãy tính theo tổng lưu lượng của cả hai lò, không phải của một lò.
Chiều dài ống góp cũng cần tính. Ống phải đủ chỗ cho các cổng nhánh, cộng khoảng trống để tay quay được van, để thợ bọc bảo ôn và để sau này tháo lắp. Nên chừa sẵn một hoặc hai cổng dự phòng có bích mù. Làm sẵn lúc chế tạo rất rẻ so với việc cắt ống, hàn thêm cổng khi nhà máy đang cần chạy.

Nhìn một ống góp, tôi đếm số cổng còn trống trước tiên. Xưởng nào mở rộng cũng thiếu cổng. Chừa một cổng có bích mù hôm nay đỡ cho anh chị một lần dừng lò về sau.
Chia nhánh từ ống góp hơi thế nào cho đều?
Ống góp có đúng cỡ mà nhánh chọn sai thì hơi vẫn không đều. Mỗi nhánh phải được tính theo lưu lượng thật của nhóm máy nó cấp, không chọn theo cỡ của thiết bị đầu cuối. Dưới đây là ví dụ chia lò 5 tấn cho ba nhánh, ở 8 bar, lấy mốc 25 m/s cho ống nhánh:
| Nhánh ví dụ | Lưu lượng (t/h) | Thử cỡ nhỏ | Thử cỡ lớn | Nên chọn |
|---|---|---|---|---|
| Xưởng sấy | 2,5 | DN80: 31,3 m/s | DN100: 18,2 m/s | DN100 |
| Xưởng nấu | 1,5 | DN65: 29,0 m/s | DN80: 18,8 m/s | DN80 |
| Xưởng phụ | 1,0 | DN50: 27,6 m/s | DN65: 19,3 m/s | DN65 |
Phân bổ lưu lượng là giả định để minh họa. Lấy lưu lượng tải đỉnh thật của từng nhánh khi tính cho nhà máy mình.
Ví dụ này có một chỗ cần để ý. Tổng ba nhánh bằng đúng 5 tấn, nhưng các máy hiếm khi cùng đạt đỉnh. Nếu cộng dồn cả công suất trên nhãn máy thì tổng có thể vượt xa công suất lò, và nhánh bị chọn to hơn mức cần. Nếu tính theo lượng hơi trung bình thì nhánh lại nhỏ vào giờ cao điểm. Cách an toàn là ghi lại lịch chạy thực tế, xem máy nào chạy cùng lúc rồi mới cộng.
Bốn quy tắc khi lắp cổng nhánh
Lấy hơi từ đỉnh ống
Nước chảy dọc đáy ống. Cổng nhánh đặt ở đỉnh giúp hơi đi ra khô hơn, không kéo nước về máy.Mỗi nhánh một van chặn
Van đặt gần ống góp, lối đi tới tay van phải thông thoáng. Khi có sự cố, người vận hành cần đóng được nhanh.Nhánh lớn gần cửa hơi vào
Đường đi ngắn hơn nên ống góp đỡ phải dẫn hết lưu lượng qua cả chiều dài của nó.Có biển tên từng nhánh
Ghi rõ nhánh cấp cho xưởng nào. Khi khẩn cấp, không ai có thời gian lần theo đường ống.Với nhà máy có hai lò dùng chung ống góp, mỗi lò cần van chặn riêng và van một chiều trên đường ra, để hơi không chảy ngược về lò đang dừng hoặc áp thấp hơn. Việc chọn loại van cho từng vị trí, anh chị xem thêm bài chọn van hơi công nghiệp.
Nhánh cấp cho thiết bị dùng áp thấp hơn thì đặt van giảm áp ở gần thiết bị, không đặt ngay tại ống góp nếu nhánh còn đi xa. Hơi áp cao đi được ống nhỏ hơn, tới gần máy mới giảm áp thì đỡ tốn ống và đỡ tổn thất.

Xả nước ngưng ống góp hơi ở đâu cho đúng?
Ống góp càng to thì nước càng có chỗ đọng nếu không có đường ra. Lúc lò khởi động, phần lớn hơi đầu tiên ngưng lại trên thành ống lạnh. Thử tính một ví dụ đơn giản: 3 m ống DN200 nặng khoảng 128 kg thép, nâng từ 30°C lên 175°C sẽ ngưng khoảng 4 đến 5 kg hơi. Thêm 30 m ống nhánh DN100 là thêm khoảng 17 kg nữa. Lượng nước đó phải có lối thoát, nếu không nó sẽ bị dòng hơi đẩy đi như một viên đạn nước.
Ví dụ tính lý thuyết, chưa kể phụ kiện và bảo ôn. Dùng để hình dung độ lớn, không dùng để chọn bẫy hơi.
Một điểm xả đúng gồm những gì?
- Ống góp đặt hơi nghiêng về một đầu, độ dốc thường khoảng 1/100, để nước tự chảy về điểm thấp.
- Tại đầu thấp có túi gom nước, là đoạn ống đứng hàn ở đáy ống góp. Ống tới DN100 thì túi thường bằng cỡ ống. Ống lớn hơn thì túi khoảng một nửa đường kính ống, không dưới DN100.
- Đáy túi có van xả tay, dùng lúc khởi động để xả nhanh lượng nước lớn.
- Cạnh túi, cao hơn đáy một đoạn, là nhánh nối qua lọc Y tới bẫy hơi. Cặn lắng ở đáy túi, không chui vào bẫy.
- Có van chặn trước và sau bẫy, có điểm xem bẫy làm việc, để kiểm tra và thay mà không phải dừng lò.
- Đường ra của bẫy dẫn về bồn nước ngưng nếu được, hoặc tới nơi xả an toàn, không xả thẳng ra lối đi.
Có ba lỗi hay gặp. Lỗi thứ nhất là chỉ khoan một lỗ nhỏ ở đáy ống rồi nối bẫy. Nước chạy nhanh trên đáy ống sẽ vượt qua lỗ nhỏ, còn cặn lại chui thẳng vào bẫy. Lỗi thứ hai là chỉ có van tay, không có bẫy, nên vận hành mở hé cả ngày và mất hơi. Lỗi thứ ba là đặt bẫy cao hơn điểm thu nước mà không tính áp đẩy, nên nước ở lại khi áp thấp lúc khởi động.
Túi gom không thay cho bình tách hơi. Nếu lò hay cuốn nước theo hơi, ví dụ do nước lò có TDS cao hoặc mực nước để quá cao, thì phải xử lý từ phía lò. Ống góp chỉ đỡ được phần nào.

Mở van hơi chính từ từ theo quy trình, xả hết nước đọng trước khi cấp hơi vào ống góp. Không đứng trước đầu xả. Không tự khoan, hàn hay tháo cổng trên ống góp khi còn áp, và không dùng ống góp để treo đỡ thiết bị khác. Ống góp là bộ phận chịu áp, mọi sửa đổi phải có người có chuyên môn và hồ sơ đi kèm.
Những thứ nên có trên ống góp trước ngày cấp hơi
Sau cỡ ống và điểm xả, các chi tiết còn lại không đắt nhưng giúp nhà máy dễ vận hành hơn nhiều về sau.
Đồng hồ áp ở ống góp
Dùng làm số gốc. Có ống xi phông và van cô lập để thay đồng hồ không phải dừng lò.Bảo ôn cả ống và cổ nhánh
Ống góp nóng ở nhiệt độ hơi. Bảo ôn hở vừa mất nhiệt, vừa làm hơi ngưng nhiều hơn, vừa có nguy cơ bỏng.Giá đỡ cho phép giãn nở
Ống dài ra khi nóng. Giá đỡ cứng ở cả hai đầu sẽ đẩy lực sang cổ lò và mối hàn nhánh.Đồng hồ lưu lượng khi cần
Nhà máy muốn tính giá hơi theo từng xưởng có thể chừa đoạn ống thẳng trước khi hơi vào nhánh cần đo.Khi bàn giao, nên chụp ảnh và ghi lại: cỡ ống góp, số cổng, nhánh nào cấp cho đâu, hướng dốc, vị trí từng bẫy. Tờ sơ đồ một trang này sẽ giúp ca sau, thợ sau và đoàn kiểm tra đỡ mất thời gian lần đường ống. Trên ống góp đang dùng, nên kiểm tra định kỳ xem bẫy có làm việc không, van tay có kín không, bảo ôn có rách không và đồng hồ có còn đọc đúng không.
Xưởng đã có ống góp nhỏ thì làm gì?
Chưa cần thay ngay. Trước hết đọc áp ở ống góp và đầu các nhánh lúc tải đỉnh, rồi kéo lại công cụ phía trên theo lưu lượng thật. Nếu tốc độ cao nhưng áp vẫn ổn và không có hiện tượng cuốn nước, có thể giữ nguyên và chỉ bổ sung điểm xả. Nếu áp nhánh dao động mạnh, có búa nước hoặc đang định thêm tải, lúc đó mới tính thay ống góp vào đợt dừng lò có kế hoạch. Với hiện tượng tiếng gõ trong ống, nên xử lý đường thoát nước trước khi nghĩ tới đổi ống.
Nhà máy đang lập mới hoặc mở rộng hệ thống có thể tham khảo thêm trang lắp đặt hệ thống hơi nhà máy của VLB Boiler, nơi có đầy đủ các hạng mục từ phòng lò tới điểm dùng hơi.

Câu hỏi thường gặp về ống góp hơi lò hơi
Ống góp hơi lò hơi 5 tấn nên chọn cỡ bao nhiêu?
Với 5 tấn hơi mỗi giờ ở 8 bar, DN150 cho tốc độ khoảng 16 m/s và DN200 khoảng 9 m/s theo tính lý thuyết. Nếu sau này có thể thêm lò hoặc thêm tải, DN200 thường thoải mái hơn. Cỡ chốt cuối cùng phải dựa vào áp làm việc, số nhánh và kế hoạch mở rộng của nhà máy.
Ống góp hơi có cần lớn hơn ống ra của lò không?
Thường là có, vì ống góp cần làm hơi chậm lại để chia đều và để giọt nước kịp rơi xuống. Nếu ống góp bằng đúng ống ra lò, tốc độ không giảm nên hai vai trò này yếu đi. Trường hợp chỉ có một nhánh duy nhất thì có thể xét khác, nhưng vẫn cần có điểm xả nước ngưng.
Vì sao phải lấy nhánh từ đỉnh ống góp?
Nước ngưng chảy dọc đáy ống. Lấy nhánh từ đỉnh giúp hơi đi ra khô hơn và hạn chế cuốn nước theo nhánh. Lấy từ đáy hoặc mặt bên dưới dễ kéo nước về thiết bị, gây búa nước và làm máy chậm lên nhiệt.
Ống góp hơi cần mấy điểm xả nước ngưng?
Ít nhất phải có một điểm ở đầu thấp của ống, gồm túi gom, van xả tay cho lúc khởi động và bẫy hơi cho lúc chạy thường. Ống dài hoặc có đoạn đổi cao độ thì cần thêm điểm xả. Số điểm thực tế tùy chiều dài và cách đi ống của từng nhà máy.
Có tự khoan thêm cổng trên ống góp để lấy hơi được không?
Không nên tự làm. Ống góp là bộ phận chịu áp, việc khoét lỗ và hàn cổng phải tính lại độ bền, có thợ hàn phù hợp và có hồ sơ. Tuyệt đối không làm khi ống còn áp. Trước khi thêm tải, nên kiểm tra lại tốc độ hơi và công suất lò.
Vương Long Boiler có tư vấn đường ống hơi sau lò không?
Có. Đội kỹ thuật Vương Long Boiler nhận khảo sát và lắp đặt đường ống hơi, bẫy hơi, bảo ôn và thu hồi nước ngưng trên toàn quốc. Anh chị gọi 09 6789 1338, gửi ảnh ống góp và danh sách thiết bị dùng hơi để được trao đổi.
Tham khảo: bảng hơi bão hòa IAPWS-IF97; khuyến nghị về thoát nước đường ống hơi trong tài liệu kỹ thuật Spirax Sarco; mốc tốc độ hơi theo Manufacturing Chemist. Số trong bài là ví dụ ước tính lý thuyết.

Ống góp của xưởng đã đúng cỡ chưa?
Vương Long Boiler có gần 20 năm trong ngành nhiệt năng lượng. Đội kỹ thuật nhận khảo sát, lắp đặt đường ống hơi, bẫy hơi, bảo ôn và thu hồi nước ngưng trên toàn quốc.
khinhietdienvuonglong@gmail.com · congnghelohoi@gmail.com · Xem bản đồ











